Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh viện Mắt Sài Gòn - Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh viện Mắt Sài Gòn - Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014


Lasik’s Day là chương trình ưu đãi thường niên được tổ chức tại tất cả các bệnh viện thuộc Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn trên cả nước. Đây là chương trình đặc biệt hỗ trợ dành cho bệnh nhân điều trị Cận – Loạn – Viễn – Lão thị bằng phương pháp phẫu thuật Lasik.
Trong nỗ lực phấn đấu “Vì đôi mắt cộng động”, từ năm 2004 cho đến nay, Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn với Lasik’s Day đã mang lại lợi ích cho xã hội và niềm hạnh phúc cho hàng trăm ngàn bạn trẻ được tự do thoát khỏi sự phiền hà của cặp kính. Mỗi năm tại mỗi cơ sở của Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn, đội ngũ y bác sĩ chuyên khoa mắt với trình độ chuyên môn hàng đầu tại Việt Nam đã phẫu thuật thành công cho hàng ngàn bệnh nhân mắc tật khúc xạ: cận – loạn – viễn và lão thị (năm 2013, Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn đã phẫu thuật thành công cho 6500 bệnh nhân tham gia Lasik’s Day 2013 tại Hà Nội và khu vực phía bắc, 5000 bệnh nhân tại Tp. HCM và khu vực phía Nam, hơn 2000 bệnh nhân tại khu vực miền trung).
Tiếp nối ý nghĩa xã hội nhân văn của chương trình, Lasik’s Day 2014 do Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn tổ chức sẽ diễn ra trong thời gian từ ngày 02/06 đến hết ngày 30/06/2014 với nội dung ưu đãi được áp dụng tại mỗi Bệnh viện như sau:

1)Tại các Bệnh viện thuộc Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn tại khu vực Hà Nội bao gồm:

Bệnh viện Mắt Sài Gòn – Hà Nội: Số 77 Nguyễn Du, Quận Hai Bà Trưng, Tp. Hà Nội
Bệnh viện Mắt Sài Gòn – Hà Nội: Số 532 đường Láng, Quận Đống Đa, Tp. Hà Nội
Ưu đãi áp dụng dành cho tất cả bệnh nhân điều trị cận – loạn – viễn – lão thị bằng phương pháp phẫu thuật Lasik:
Miễn hoàn toàn 100% phí khám trị giá 500.000VNĐ

Chỉ còn 7.500.000VNĐ trọn gói: chi phí phẫu thuật – thuốc sau phẫu thuật và tái khám trong vòng 06 tháng sau mổ
Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ số Hotline tư vấn: 0904.820.022 hoặc 0933.777.532

Đăng ký online để tham gia chương trình tại Hà Nội và khu vực phía bắc

2)Tại các Bệnh viện thuộc Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn tại khu vực Tp. HCM và khu vực miền trung bao gồm:

Bệnh viện Mắt Sài Gòn: Số 473 CMT8, P.13, Quận 10, TP.HCM
Bệnh viện Mắt Sài Gòn: 100 Lê thị Riêng, Quận 1, TP.HCM
Bệnh viện Mắt Việt - Hàn: Số 355 - 365 Ngô Gia Tự, P.3, Quận 10, TP.HCM
Bệnh viện Mắt Sài Gòn – Vinh: 999 Đại lộ VI Lê Nin, Hà Huy Tập, TP.Vinh
Bệnh viện Mắt Sài Gòn – Nha Trang: Lô 9-24 KDC Cầu Dứa, Xã Vĩnh Hiệp, TP Nha Trang
Ưu đãi áp dụng dành cho tất cả bệnh nhân điều trị cận – loạn – viễn – lão thị bằng phương pháp phẫu thuật Lasik:

Chỉ còn 7.500.000VNĐ trọn gói: chi phí phẫu thuật – thuốc sau phẫu thuật và tái khám trong vòng 06 tháng sau mổ
(Bệnh nhân đóng 500.000VNĐ để khám tổng quát và sàng lọc, số tiền này sẽ được giảm trừ khi Bệnh nhân đóng chi phí phẫu thuật)

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ số Hotline tư vấn:
Khu vực Tp. HCM: 08.3602.0054
Khu vực Khánh Hòa: 058. 3895039
Khu vực Nghệ An: 038. 860 95 95

Đăng ký online tham gia chương trình tại khu vực Tp. HCM và khu vực miền trung: (Link form đăng ký)
Cách thức đăng ký tham gia chương trình:
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh nhân có điều kiện địa lý xa, đi lại khó khăn hoặc do chưa bố trí được thời gian vẫn có thể tham gia Lasik’s Day 2014, Hệ thống bệnh viện Mắt Sài Gòn sẽ tiếp nhận đăng ký qua 2 kênh:
Cách 1) Đăng ký trực tuyến qua website: www.matsaigon.com từ ngày 30/05/2014 đến hết 30/06/2014.
Cách 2) Đăng ký trực tiếp tại các bệnh viện thuộc hệ thống Mắt Sài Gòn từ ngày 02/06/2014 đến hết ngày 30/06/2014

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014


Cận thị là một tật khúc xạ gây rối loạn chức năng thị giác và chiếm một vị trí đáng kể trong nhóm tật về thị giác, đặc biệt ở học sinh và người lao động trẻ. Người bị cận thị nhìn rõ khi vật gần mắt và nhìn mờ khi vật xa mắt

Cận thị tiến triển (tăng số kính) - đây không chỉ là đơn thuần rối loạn chức năng thị giác có thể chỉnh kính mà là một biểu hiện bệnh lí có biến chứng tương đối nguy hiểm. Phương pháp dùng Laser hồng ngoại năng lượng thấp có độ dài bứơc sóng 1,3 micromet tác động gián tiếp xuyên qua củng mạc kích thích cơ thể mi kết hợp luyện tập điều tiết trên máy là một trong những phương pháp mới, hiện đại điều trị tiến triển cận thị ở trẻ em dựa trên nguyên lý: Tăng cường tuần hoàn, tăng cường trao đổi chất của cơ điều tiết - đang được áp dụng điều trị tại Bệnh viện Mắt TW.

Xã hội càng phát triển, trẻ em sớm được tiếp cận với những phương tiện máy móc tiện ích phục vụ việc học tập và nhu cầu giải trí thì số lượng người cận thị ngày càng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt gần đây tỷ lệ trẻ em bị cận thị tăng cao, có những em còn rất nhỏ. Theo tổ chức y tế thế giới, có khoảng trên 800 triệu người bị cận thị. Cận thị làm giảm sức nhìn cho con người, gây cản trở, khó khăn trong công việc hàng ngày. ở các em học sinh từ 7-16 tuổi cũng rất dễ mắc chứng cận thị, mà độ cận thị tiến triển nhanh do mức độ làm việc nhìn gần bằng mắt nhiều mà chúng tôi thường gọi là cận thị mắc phải, đây là một điều nguy hiểm vì cận thị xuất hiện càng sớm thì mức độ tăng số kính càng nhanh.

Độ dài nhãn cầu phát triển bình thường cho đến tuổi 25, độ dài trục nhãn cầu trung bình ở người trưởng thành là 23,0 đến 24,0 mm. ở người cận thị trục nhãn cầu có thể dài hơn, đôi khi tới trên 30,0 mm. Trục nhãn cầu cứ dài ra 1mm tương ứng với tăng độ cận thị – 3,0 D.

TRIỆU CHỨNG CẬN THỊ

Cận thị bẩm sinh thường được phát hiện sơm khi trẻ 1-2 tuổi, cận thị bẩm sinh thường có số kính cao và tăng số nhanh bất bình thường

Cận thị khởi phát ở thiếu niên là cận thị xuất hiện ở trẻ từ 5-6 tuổi, và được phát hiện khi trẻ đến trường. Trẻ em nhìn không rõ mờ khi vật ở xa, không phân biệt hoặc nhầm lẫn rõ nét số và chữ trên bảng, mỏi mắt khi đọc sách, tiến gần khi xem vô tuyến, xem phim.

Cận thị khởi phát ở người lớn xuất hiện ở khoảng 20 tuổi. Công việc nhìn gần nhiều là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển cận thị ở tuổi này.

NGUYÊN NHÂN PHÁT TRIỂN CẬN THỊ

Có nhiều nguyên nhân gây phát triển cận thị. Các nguyên nhân chính là:

Làm việc, nhìn gần bằng mắt nhiều (trong điều kiện ánh sáng thiếu và không được nghỉ ngơi thích hợp).

Di truyền.

Thành củng mạc (lớp vỏ nhãn cầu) đàn hồi kém. Cơ địa mắt to hơn bình thường.

Cơ điều tiết mắt phát triển kém: bẩm sinh, nguyên phát.

PHÂN LOẠI CẬN THỊ

Cận thị có nhiều loại khác nhau.
Cận thị sinh lý (thường gọi là cận thị học đường): thường xuất hiện ở học sinh phổ thông, cận thị nhẹ hoặc vừa.

Cận thị bệnh lí (cận thị ác tính, cận thị tiến triển, cận thị thoái hoá) do khúc xạ của giác mạc hoặc thể thuỷ tinh cao hơn bình thường hoặc độ dài trục nhãn cầu phát triển quá mức bình thường, độ cận thị thường trên 6,0 D, số kính cận thị tăng trên 1,0 D/ năm và có tổn hại dịch kính, võng mạc).

Cận thị có thể dược phân chia thành 3 loại sau:
Cận thị nhẹ < - 3,0D;
Cận thị trung bình - 3,0D đến - 6,0D;
Cận thị nặng > - 6,0D.

Nếu người cận thị có kính cận thị tăng nhanh trên 1,0 D/ năm thì sẽ tiếp tục tăng sau tuổi trưởng thành, có khi tới -20,0 D. Trục nhãn cầu phát triển quá mức dễ gây biến chứng cận thị: giãn lồi võng mạc, xuất huyết võng mạc, dịch kính, thoái hoá , teo hắc võng mạc dẫn đến giảm thị lực trầm trọng gây mù loà.

ĐIỀU TRỊ CẬN THỊ

Người cận thị nhìn xa rõ khi được chỉnh kính phân kỳ (kính - điốp hay gọi là kính cận thị).

1. .Kính gọng là một trong những biện pháp cần thiết để điều chỉnh tật cận thị. Tuỳ theo mức độ cận thị, bệnh nhân cần đeo kính thường xuyên hay chỉ cần đeo kính khi nhìn xa (các bác sĩ nhãn khoa sẽ tư vấn cụ thể cho từng trường hợp). Nếu bệnh nhân cận thị được chỉnh kính đúng, thích hợp tiến triển cận thị sẽ chậm hơn.

Ngoài kính gọng bệnh nhân có thể dùng kính tiếp xúc, phương pháp này có lợi ích mỹ quan. Tuy nhiên người sử dụng phải đặc biệt thận trọng giữ vệ sinh nếu không sẽ tổn hại đến giác mạc có thể gây viêm hoặc loét giác mạc.

Đeo kính cận thị không thể làm dừng lại mức độ tăng số kính mà nó chỉ có thể điều chỉnh mức độ quang học. Nếu thị lực kém đi và cần tăng số kính cận thị có nghĩa là cận thị tiến triển (độ cận thị năng thêm).

Ngoài việc chỉnh kính, để hạn chế cận thị tiến triển, giữ ổn định số kính cận thị và đề phòng các biến chứng cận thị như xuất huyết dịch kính, võng mạc, bong võng mạc … dẫn đến giảm thị lực trầm trọng, bệnh nhân cần được điều trị bằng một số phương pháp thích hợp làm hạn chế tăng số kính cận thị tiến đến ổn định độ cận thị và đề phòng biến chứng cận thị.

2. Vật lí trị liệu: tác động làm phục hồi chức năng điều tiết mắt, tăng cường tuần hoàn cơ thể mi, võng mạc, tăng cường trao đổi chất, tăng cường trương lực cơ như : Luyện tập điều tiết trên máy, thuốc tác động lên điều tiết, dùng sóng siêu âm, điện, điện tử, lazer năng lượng thấp.

Từ những năm đầu của thập kỷ 80 do có sự tiến bộ vượt bậc của khoa học - tia Laser đã được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong khám và điều trị các bệnh nhãn khoa. Năm 1981 nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm trên động vật và điều trị lâm sàng cho thấy tia laser năng lượng thấp kích thích võng mạc, thể mi – làm tăng tuần hoàn võng mạc, tăng trao đổi chất tế bào để điều trị một số bệnh võng mạc: thoái hoá HVM, thoái hoá võng mạc vựng hoàng điểm, viêm, teo gai thị, thị thần kinh, điều trị tật khúc xạ, nhược thị ở trẻ em. Điều trị bằng Laser công suất thấp,là phương pháp ứng dụng kỹ thuật hiện đại và có hiệu quả cao, an toàn, không có biến chứng và tác dụng phụ.

3. Phẫu thuật:

- -Đối với trẻ em cận thị có số kính tăng nhanh (trên 1,0 điốp/ năm) cần can thiệp phẫu thuật ghép độn củng mạc để hạn chế mức độ tăng số kính và giãn lồi củng mạc.

- Đối với bệnh nhân trên 18 tuổi có độ cận thị ổn định có thể phẫu thuật điều trị cận thị bỏ kính bằng Laser excimer (LASIK).

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

xử lí khi dầu gió vương vào mắt?


Hỏi: 

Do sơ xuất, con gái 2 tuổi của tôi bị dầu gió đổ vào mắt. Tôi đã đưa cháu đi viện khám, bé được kê thuốc nhỏ mắt nhưng sau một ngày mắt bé vẫn sưng húp, không mở mắt ra được, tôi rất lo lắng cho thị lực của bé.
Xin hỏi bác sĩ, thị lực của bé có bị ảnh hưởng gì sau này không? Làm sao để mắt bé hết sưng húp?

(Vân Yến, Yên Lạc, Vĩnh Phúc).

Trả lời:

Tai nạn do dầu gió dính vào mắt cũng thỉnh thoảng xảy ra với các em nhỏ, do nhiều người vẫn nghĩ dầu gió lành, vẫn dùng để bôi cho trẻ nên cho bé cầm chơi, không may bị dính vào mắt.

Trong khi đó, dầu gió có sử dụng dung môi để pha hòa tan chất thơm. Nếu độ PH dầu gió trung tính thì khi dính vào mắt đỡ gây tổn thương mắt hơn. Còn nếu có độ PH cao, thậm chí sử dụng dung môi là cồn thì có thể gây ảnh hưởng đến mắt. Độ nóng của dầu có thể gây trợt giác mạc, tổn thương mắt. Tuy nhiên với thương tổn này, bệnh nhân thường được kê thuốc nhỏ mắt điều trị ngoại trú.

Chị cũng không nên quá sốt ruột bởi mắt bé vẫn bị sưng húp do lớp bề mặt của nhãn cầu giác mạc bị trầy xước, kết mạc sưng nề gây tình trạng này. Vì thế, chị nên bình tĩnh nhỏ thuốc mắt như hướng dẫn của bác sĩ. Còn nếu thấy có hiện tượng bất thường, bé khóc chịu, nhức mắt… thì nên cho bé đến viện tái khám.

Chị cũng không nên quá lo lắng, bởi dầu gió gây tổn thương thường không để lại tác hại lâu dài về thị lực của trẻ sau này. Tuy nhiên khi mới bị trẻ rất khó chịu vì độ nóng của dầu. Vì thế, hãy luôn chú ý, để xa dầu gió khỏi tầm tay của trẻ.

Khi không may bị dính dầu gió vào mắt, cần ngay lập tức rửa mắt với nước muối. Nếu không có nước muối trong tầm tay có thể rửa bằng nước sạch.

Theo BS Nguyễn Quốc Anh, Trưởng khoa Chấn thương (BV Mắt Trung ương)

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013




Nếu căn bản mắt bạn hơi khô, khi ngồi trước màn hình vi tính tốt nhất không nên dùng kính áp tròng, những người dùng kính áp tròng nên dùng loại kính có chất lượng cao.

Người 40 tuổi trở lên, tốt nhất không dùng kính áp tròng, nên dùng kính có gọng, khi đánh máy nên đeo kính có độ nhẹ.

Nếu mắt bạn xuất hiện hiện tượng đỏ, tổn thương hoặc có dị vật rơi vào, thâm quầng mắt, nhìn mờ, thậm chí xuất hiện sưng mắt hoặc đau mắt, sau khi nghỉ ngơi vẫn không có biến chuyển tốt nên tới bệnh viện kiểm tra mắt.

1. Tránh nhìn tập trung quá lâu không chớp mắt, thường xuyên chớp mắt để hạn chế thời gian con ngươi mắt tiếp xúc với không khí, tránh làm khô mắt.

2. Không bật điều hoà quá lâu, tránh luồng không khí thổi trực tiếp tại chỗ ngồi, bên cạnh chỗ ngồi nên đặt một tách trà làm tăng độ ẩm xung quanh.

3. Nên ăn nhiều hoa quả, đặc biệt là các loại quả như cam quýt, nên ăn nhiều loại rau xanh, thức ăn tinh bột, cá và trứng, uống nhiều nước cũng có tác dụng hỗ trợ cho việc chống khô mắt.

4. Giữ nếp sống lành mạnh, bảo đảm giấc ngủ đầy đủ, không nên thức đêm.

5. Tránh ngồi quá lâu trước máy vi tính, giữa thời gian làm việc nên dành ít phút cho mắt được nghỉ ngơi, làm việc khoảng 1 giờ nên nghỉ ngơi 5-10 phút. Trong lúc nghỉ ngơi có thể đưa mắt nhìn ra xa hoặc làm các động tác thể dục cho mắt.

6. Giữ tư thế ngồi làm việc tốt. Giữ khoảng cách thích hợp nhất để hai mắt được nhìn thẳng và thoải mái, như vậy có thể khiến cho các cơ ở phần cổ được thoải mái và hạn chế được tối đa diện tích nhãn cầu tiếp xúc với không khí.

7. Điều chỉnh hợp lý khoảng cách với đèn. Khoảng cách thích hợp là 50-70 cm, đèn nên thấp hơn mắt 10-20 cm, kéo góc 15-20 độ. Như vậy có thể giảm mức độ mệt mỏi cho nhãn cầu.


--- Nguồn: aFamily ---

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013




– Muốn trút bỏ bất tiện của cặp kính cận, kính viễn.

– Muốn bỏ kính để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.

– Không muốn mắt bị ướt nhòa vì phải đeo kính dưới trời mưa hoặc trong bể bơi.

– Muốn chơi thể thao.

– Muốn mắt sáng và nhìn được mọi vật một cách chân thực.

– Muốn đẹp hơn khi bỏ kính.

– Từ 18 tuổi trở lên, và tốt nhất là dưới 40 tuổi.

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013


Bệnh nhân gửi cho mình sau 5 ngày điều trị. Tình cảm của bệnh nhân là sự động viên, an ủi lớn nhất để chúng mình ngày càng yêu nghề, 

" Sau khi Bs tiêm mắt trái cho tôi vao11h ngày 3/8, tình trạng bệnh được cải thiện tốt, hết đau nhức, thị lực dần dần được cải thiện. Tôi đã ở châu Âu và Bắc Phi 16 năm, tôi thực sự thấy hài lòng về trình độ và sự phục vụ bệnh nhân của Bs. Chúc Bs nhiều thành công và hạnh phúc !


Đã gửi từ iPhone của tôi, Pgs.Ts.Ngưt. Nguyễn Đức Khiêm, ĐhnnHn"

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013




1. Nên ăn nhiều hoa quả, đặc biệt là các loại quả như cam quýt, nên ăn nhiều loại rau xanh, thức ăn tinh bột, cá và trứng, uống nhiều nước cũng có tác dụng hỗ trợ cho việc chống khô mắt.

2. Không bật điều hoà quá lâu, tránh luồng không khí thổi trực tiếp tại chỗ ngồi, bên cạnh chỗ ngồi nên đặt một tách trà làm tăng độ ẩm xung quanh.

3. Tránh nhìn tập trung quá lâu không chớp mắt, thường xuyên chớp mắt để hạn chế thời gian con ngươi mắt tiếp xúc với không khí, tránh làm khô mắt.

4. Giữ nếp sống lành mạnh, bảo đảm giấc ngủ đầy đủ, không nên thức đêm.

5. Tránh ngồi quá lâu trước máy vi tính, giữa thời gian làm việc nên dành ít phút cho mắt được nghỉ ngơi, làm việc khoảng 1 giờ nên nghỉ ngơi 5-10 phút. Trong lúc nghỉ ngơi có thể đưa mắt nhìn ra xa hoặc làm các động tác thể dục cho mắt.

6. Giữ tư thế ngồi làm việc tốt. Giữ khoảng cách thích hợp nhất để hai mắt được nhìn thẳng và thoải mái, như vậy có thể khiến cho các cơ ở phần cổ được thoải mái và hạn chế được tối đa diện tích nhãn cầu tiếp xúc với không khí.

7. Điều chỉnh hợp lý khoảng cách với đèn. Khoảng cách thích hợp là 50-70 cm, đèn nên thấp hơn mắt 10-20 cm, kéo góc 15-20 độ. Như vậy có thể giảm mức độ mệt mỏi cho nhãn cầu.

Nếu căn bản mắt bạn hơi khô, khi ngồi trước màn hình vi tính tốt nhất không nên dùng kính áp tròng, những người dùng kính áp tròng nên dùng loại kính có chất lượng cao.

Người 40 tuổi trở lên, tốt nhất không dùng kính áp tròng, nên dùng kính có gọng, khi đánh máy nên đeo kính có độ nhẹ.

Nếu mắt bạn xuất hiện hiện tượng đỏ, tổn thương hoặc có dị vật rơi vào, thâm quầng mắt, nhìn mờ, thậm chí xuất hiện sưng mắt hoặc đau mắt, sau khi nghỉ ngơi vẫn không có biến chuyển tốt nên tới bệnh viện kiểm tra mắt.

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013


Bảng giá phẫu thuật chương trình Lasik khuyến mãi ưu đãi 50% ở 3 cơ sở thuộc bệnh viện Mắt Sài Gòn.

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

CHƯƠNG TRÌNH ƯU ĐÃI ĐIỀU TRỊ TẬT KHÚC XẠ
(CẬN – VIỄN – LOẠN – LÃO THỊ)
Kỷ niệm 10 năm thành lập Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn
Chào mừng khai trương Bệnh viện Mắt Sài Gòn – Nha Trang
Kính gửi: Quý Bệnh nhân!
Từ ngày 01/12/2013, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn và chào mừng khai trương Bệnh viện Mắt Sài Gòn – Nha Trang, Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn thực hiện chương trình ưu đãi điều trị tật khúc xạ (cận – viễn – loạn – lão thị) bằng phương pháp phẫu thuật Lasik với mức ưu đãi lên đến 50% chi phí phẫu thuật: chỉ còn 7.500.000Đ (đã bao gồm chi phí khám trước phẫu thuật, chi phí phẫu thuật và tái khám trong vòng 06 tháng sau mổ).
Chương trình ưu đãi được áp dụng tại 3 cơ sở của Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn bao gồm:
  • Bệnh viện Mắt Sài Gòn – Nha Trang:
  • Địa chỉ: Lô 9-24 KDC Cầu Dứa, Xã Vĩnh Hiệp, TP Nha Trang
    Điện thoại: 058. 3895039

  • Bệnh viện Mắt Sài Gòn:
  • Địa chỉ: 473 CMT8, P.13, Q.10, TP HCM
    Điện thoại: 08. 3 862 9751

  • Bệnh viện Mắt Sài Gòn – Hà Nội:
  • Địa chỉ: Số 532 đường Láng, Q. Đống Đa, TP. Hà Nội
    Điện thoại: 04. 32484 702
Cách thức đăng ký tham gia chương trình ưu đãi:
Quý bệnh nhân có thể đăng ký tham gia chương trình theo 02 cách:
  • Cách 1: Đăng ký trực tiếp tại các cơ sở của Hệ thống Bệnh viện Mắt Sài Gòn áp dụng chương trình.
  • Cách 2: Đăng ký trực tuyến tại website: www.matsaigon.com (nhân viên chăm sóc khách hàng của Bệnh viện sẽ liên hệ với Quý bệnh nhân sau khi nhận được thông tin đăng ký trực tuyến).
Lưu ý: Quý bệnh nhân có thể lựa chọn phẫu thuật ngay trong ngày khám hoặc ngày phẫu thuật theo mong muốn của bản thân.
Chương trình được áp dụng đến hết ngày 31/12/2013.

Để biết thêm thông tin chi tiết, Quý bệnh nhân vui lòng liên hệ HOTLINE tư vấn thông tin về chương trình:
Tại khu vực Hà Nội: 0933777532 hoặc 0904820022
Tại khu vực TP HCM: 01217577776 hoặc 08.3 8629751
Tại Nha Trang: 058. 3895039

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013


Hiện nay vấn đề chăm sóc và bảo vệ thị giác đang được đặc biệt quan tâm. Muốn đề phòng cận thị học đường, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, y tế và chính bản thân học sinh cũng phải có ý thức giữ gìn đôi mắt. Theo quy định chung về vệ sinh học đường, trong đó có vấn đề vệ sinh thị giác, các nhà chuyên môn đã đưa ra nhiều biện pháp vệ sinh thị giác như sau:

1. Kích thước và cách sắp xếp cuả bàn, ghế, bảng viết: Phải phù hợp với học sinh ngồi học để có thể nhìn đúng khoảng cách từ mắt đến tập vở, sách và không phải cúi đầu nhiều.

2. Đảm bảo nơi học đủ ánh sáng:

- Ánh sáng chúng ta dùng làm việc gần phải có cường độ lớn gấp 3 lần cường độ ánh sáng trong phòng. Cường độ ánh sáng tối thiểu để làm việc gần là 200 lux, nhưng tối đa không quá 500 lux.

- Không nên chỉ dùng 1 ngọn đèn để đọc sách trong phòng tối .

- Cần tránh sự phản xạ bề mặt (đó là các phản xạ từ mặt giấy hoặc màn hình máy tính) khi chúng ta làm việc gần.

- Chúng ta nên sử dụng kết hợp đèn điện bóng tròn và đèn ống.

- Việc chiếu sáng được xem là tốt nhất cho việc đọc sách là chiếu sáng từ sau và trên xuống.

- Chúng ta cũng có thể kết hợp ánh sáng nhân tạo và ánh sáng mặt trời. Cả phòng nên được chiếu sáng đầy đủ.

3. Chính bản thân HS khi ngồi học phải giữ đúng tư thế: Ngồi thẳng lưng, 2 chân khép lại, 2 bàn chân để sát nền nhà, đầu hơi cúi khoảng 10 – 15 độ, không được cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học, luôn để mắt xa sách, vở một khoảng cách thích hợp. Khoảng cách lý tưởng để đọc sách gần là khoảng cách Harmon (Harmom – Distance) là khoảng cách đo từ chỗ đầu ngón cái hoặc ngón trỏ cong lại đến cùi chỏ.

Với HS cấp III khoảng 35 cm, cấp II: 30 cm, cấp I: 25 cm.

Việc đọc sách quá gần sẽ dẫn đến nỗ lực về thị giác quá lớn do việc gia tăng sức điều tiết và cũng có thể làm xuất hiện và gia tăng độ cận thị.

4. Chữ viết trên bảng và trong tập, sách: Phải to và rõ nét, chiều cao tối thiểu của chữ viết phải bằng 1/200 khoảng cách từ mắt tới chữ.

Ví dụ: - Bàn học xa nhất là 8m, chiều cao chữ viết trên bảng phải nhỏ nhất là 4 cm.

- Chữ trong tập có chiều cao tối thiểu là 1,5 cm cho khoảng cách từ mắt tới tập là 30 cm.

5. Ở nhà: góc học tập phải đặt ở nơi đủ ánh sáng nhưng cũng không nên để ngoài hiên vào những ngày nắng gắt vì ánh sáng hơn 700 Lux cũng gây hại cho mắt.

Nếu học ban đêm, cần có đèn đủ ánh sáng, ngoài ánh sáng phòng ta cần một đèn bàn để phía bên đối diện với tay cầm viết. Đèn phải có chụp phản chiếu. Chiều cao bàn ghế phải phù hợp để tránh nhìn gần và đầu cúi nhiều. Dù học ở nhà, HS cũng không được nằm, quì mà viết bài.

6. Giảm mọi căng thẳng của mắt: không thức quá khuya đọc sách, nhất là học sinh cấp 1 và những em thị lực kém. Hạn chế thời gian xem video, tivi, trò chơi điện tử, vi tính… để ngủ đủ thời gian. Không đọc sách truyện có chữ hoặc hình ảnh lem nhem, chữ quá nhỏ.

7. Khi ta viết:

Khi cầm viết, ta nên cầm cách đầu viết khoảng 2,5cm để tránh phải nghiêng đầu xem những gì ta đang viết.

Ta nên tập xoay nghiêng theo một góc đồng phương với góc nghiêng của tay cầm bút.


8. Nghỉ ngơi thị giác từng lúc:

Đây là động tác tương đối đơn giản nhưng khá hữu hiệu để làm giảm căng thẳng do nhìn gần quá lâu. Theo cách 20-20, tức là cứ mỗi 20 phút làm việc gần, chúng ta nhìn xa 1 khoảng cách là 20 feet tức 6 m.

- Nếu máy tính đang xử lý thông tin hoặc download, chúng ta không nhìn chăm chăm vào màn hình mà nhìn ra xa xung quanh.

- Nếu nhìn ảnh xung quanh bị mờ chúng ta cho mắt nghỉ lâu hơn.

- Không làm bất cứ việc gì phải huy động thị giác gần quá 45 phút, việc nghỉ định kỳ giữa mỗi 45 phút giúp đầu óc chúng ta thư thái hơn, làm giảm sự căng thẳng sau đó chúng ta làm việc sẽ hiệu quả hơn.

- Khi đọc sách chúng ta nên làm dấu cách đó 3-4 trang, đọc đến chỗ làm dấu chúng ta lại đi 1 vòng khoảng vài phút.

9. Độ nghiêng của sách:

Khi chúng ta đặt sách lên mặt bàn thì khoảng cách từ mắt chúng ta đến đầu trang sách sẽ lớn hơn khoảng cách từ mắt đến cuối trang, điều này dẫn tới mắt chúng ta sẽ bị áp lực nhiều hơn khi đọc đến cuối trang. Do đó chúng ta nên để nghiêng sách 1 góc khoảng 20o (khoảng 10cm).

10. Xem truyền hình:

Chúng ta nên xem ti vi ở khoảng cách bằng 7 lần chiều rộng của màn hình TV, khoảng 3,5m với TV 21 inch.

Chúng ta nên ngồi thẳng khi xem và nên có chiếu sáng trong phòng nhưng tránh ánh sáng phản xạ trực tiếp màn hình.

Chúng ta cũng nên biết rằng việc xem TV giúp trẻ phát triển ít các kỹ năng về thị giác do đó đối với trẻ em nên giới hạn việc xem TV khoảng 1 đến vài giờ/ngày.

Nếu chúng ta có tậ khúc xạ, nên đeo kính khi xem TV nhằm giúp nhìn rõ và thoải mái về thị giác.

11. Tham gia các hoạt động ngoài trời:

HS nên chơi thể thoa và tham gia các hoạt động ngoài trời sau những giờ học căng thẳng để giúp mắt hết căng thẳng. Vì các hoạt động thể thao thường đòi hỏi thị giác xa hơn là thị giác gần.

Đối với học sinh sinh viên cũng như trí thức, việc chơi thể thao cũng làm giảm đáng kể các áp lực về tâm lý; cũng như giúp mắt hết mệt mỏi.

Khi chúng ta đi dạo ngoài trời, chúng ta nên giữ đầu ở tư thế thẳng, mắt mở to và nhìn thẳng về phía trước, nhìn lướt qua sự vật xung quanh chứ không nhìn chăm chú.

12. Khi tham gia các phương tiện giao thông:

Khi đi tàu xe, máy bay hay xe lửa không nên đọc sách vì chuyển động lắc lư gập ghềnh làm ta phải thay đổi điều tiết liên tục dẫn đến mệt mỏi về thị giác. Ta nên nhìn cảnh vật xung quanh để thư giãn thị giác.

13. Ăn uống đầy đủ chất: nhất là các thực phẩm có chức vitamin A như gan động vật, trứng gà, trứng vịt, các lại rau quả có màu đỏ, cam, vàng như cà chua, gấc, cà rốt, bí đỏ… các loại rau có màu xanh lục.

* Riêng đối với học sinh đã bị cận thị rồi, ngoài các điều trên, còn cần phải:

- Nhất thiết phải mang kính và mang kính đúng độ, để mắt nhìn rõ và không phải điều tiết.

- Đo thị lực mỗi đầu học kỳ hoặc mỗi năm một lần để theo dõi mức độ cận; nếu cần phải thay kính đúng độ.

- Kính trợ giúp thị giác gần:

Việc đeo kính trợ giúp cho thị giác gần (đọc sách, học bài, may vá, vẽ tranh hay làm máy tính) là rất cần thiết, đặc biệt đối với người có mắc các tật khúc xạ hoặc có bất đồng khúc xạ.

Kính trợ giúp cho thị giác gần được đeo ngay cả khi bị thị lực là 10/10 và người đó vẫn chưa bị lão thị. Việc đeo kính này giúp làm việc gần thoải mái hơn, kéo dài hơn vì nó làm giảm các nỗ lực về mặt thị giác.

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013


Kính râm đã quá phổ biến, ngay cả ở những nước không nhiều nắng lắm. Quen thuộc với thế giới văn minh thế nhưng hiểu cho đúng  và đủ về kính râm, dùng kính gì và dùng như thế nào cho các hoạt động ngoài trời nhất là khi mùa hè đang tới gần lại có vẻ là vấn đề. Ai cũng biết là ta đeo kính râm để bảo vệ mắt và che chắn bớt ánh nắng mặt trời cùng với những tia năng lượng cao trong nó, tránh những tổn hại hay khó chịu cho mắt. Trong vô vàn các cặp  kính mầu bày tràn lan từ vỉa hè, góc chợ cho tới những shop đèn màu lung linh thì đâu là cặp kính bạn cần?
Lịch sử ra đời của kính râm:
Thật ngạc nhiên là ngay từ thời đế chế La Mã các võ sĩ đã dùng các phương tiện chống lóa gần giống kính râm, người Trung Quốc đã biết dùng kính từ thế kỷ XII, người phương Tây thoạt đầu dùng kính nhằm mục đích điều trị  một vài bệnh mắt vào giữa thế kỷ XVIII. Kính màu vàng hổ phách được dùng cho người bị giang mai vì họ rất sợ ánh sáng mạnh.
Kính râm có bảo vệ mắt ?
Đúng vậy. Ngòai việc che chắn bụi, côn trùng, hóa chất khỏi chui vào mắt kính râm còn gíup bạn ngăn ngừa tia tử ngoại ( tia cực tím)- một loại tia có hại trong phổ ánh sáng mặt trời khỏi gây hại cho mắt. Tia cực tím- tia UV đã được biết đến từ lâu là mối nguy hiểm tức thì và tiềm tàng cho mắt. Bỏng mắt do tia UV hay gặp với người tắm nắng quá lâu, người đi trượt tuyết. Lâu dài nếu phơi nhiễm với tia UV quá đáng ta co thể bị lên mộng mắt, ung thư da mi, đục nhân mắt và thoái hóa hòang điểm.
Các phi công cũng phải đeo kính vì càng lên cao tầng ozon càng mỏng, đậm độ tia UV cũng tăng. Các phi công bắt đầu đeo kính râm từ năm 1936.
Người đã mổ thể thủy tinh hay đang mang kính tiếp xúc vẫn nên đeo kính râm khi cần thiết bởi vì kính râm có độ phủ rộng hơn nhiều so với kính nội nhãn hay kính tiếp xúc.
Kính râm dùng để nhìn  rõ hơn và dễ chịu hơn?
Trong một vài hòan cảnh thì đúng vậy. Nó giúp bạn chống lóa khi tham gia giao thông, nhìn  vào mặt nước. Khi bạn bị giãn đồng tử do chấn thương, bệnh lý hay do dùng thuốc giãn đồng tử kính râm sẽ giúp cho bạn có thị giác gần như bình thường. Nguời bị bệnh bạch tạng, do thiếu hắc tố nên rất khó chịu khi ra nắng. Kính râm gọng rộng là phương tiện hữu hiệu để bảo vệ họ.
Có phải kính càng màu đậm thì càng lọc được tia UV nhiều?
Đậm độ tia UV phụ thuộc vào độ cao, càng lên cao thì đậm độ tia UV càng lớn. Người leo núi, trượt tuyết nên đeo kính râm vì họ ở độ cao lớn lại bị tia UV phản xạ từ băng tuyết vào mắt nhiều. Tia UV có nhiều trong ánh sáng mặt trời từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều. Màu da, mầu mắt của chúng ta cũng quan trọng trong việc cản lọc tia UV. Màu càng đậm thì cản lọc tia UV càng tốt. Còn đói với kính râm thì độ lọc tia UV tùy thuộc vào màu kính và chất liệu làm kính. Kính làm bằng polycarbonate, CR39 có khả năng lọc khỏang 50% lượng tia UV. Màu vàng hổ phách và đen nhạt được cho là lọc tia UV tốt nhất. Ánh sáng xanh hay nhóm tia năng lượng cao phổ nhìn được bị qui kết là có thể gây ra thoái hóa hòang điểm. Kính màu đồng, nâu đỏ được cho là lọc ánh sáng xanh tốt hơn màu khác. Nếu bạn thấy nghi ngờ thì nên nhờ các nhà chuyên môn về  phân tích quang phổ, họ sẽ cho biết chính xác kính của bạn có bạn vệ bạn 100% khỏi tia UV hay không.
Còn những mục đích khác?
Tính thời trang và làm đẹp là những mục đích không thể thiếu của việc đeo kính râm. Những người kín đáo, nổi tiếng không muốn bị công chúng xoi mói cũng thường đeo kính râm gọng to. Kính râm còn là công cụ thẩm mỹ của những người có khuyết tật về mắt. Họ có thể che đi những dị hình, tăng tính thẩm mỹ của bản thân.
Trẻ em cần kính râm nhiều hơn người lớn?
Trẻ em vui chơi và hoạt động ngoài trời nhiều hơn người lớn . Do vậy cha mẹ cũng cần trang bị kính râm cho trẻ. Tuy nhiên cần chọn loại gọng dẻo, kính nhẹ làm bằng polycarbonate để trẻ dễ chịu khi đeo.
Kính như thế  nào là đạt chuẩn?
Các nhà sản xuất kính râm có uy tín hàng đầu, tất nhiên là phải là  hàng thật, sẽ cung cấp kính có chất lượng cao. Có thể nhắc đến các hãng lớn có tên tuổi như: OAKLEY, RAYBAN, MAUI JIM, COSTA DEL MAR, PERSOL...
Tiêu chuẩn ISO-2004 đã được các nhà sản xuất áp dụng trên phạm vi tòan cầu. Tại châu Âu là tiêu chuẩn CE, tại Úc là tiêu chuẩn AS/NZ1067:2003. Tuy nhiên không phải nhà sản xuất nào cũng đáp ứng được các tiêu chuẩn trên. Tiêu chuẩn CE chia cấp độ lọc tia UV làm 7 cấp, trong đó cấp 6-7 được coi là hòan hảo. Khối Bắc Mỹ chia khả năng lọc tia UV của kính làm 4 cấp độ.
Nên chọn màu gì ?
Màu xám được người Mỹ ưa chuộng nhất. Kính màu xám được dùng cho là thích hợp cho mọi hoạt động thông thường trong khi vẫn đảm bảo cho thị lực tốt, màu sắc trung thực. Màu nâu được dân chơi gôn, trượt tuyết ưa dùng, Màu cam nên dùng cho người chơi môn bắn súng, Màu đỏ thích hợp  với nơi quá nắng. Màu vàng nên dùng khi lái xe và đi biển.
Chúng ta có thêm sự lựa chọn gì?
Kính râm có thể được tráng bóng như gương để chống lóa. Các dạng vật liệu mới được coi là chống trày xước tốt tuy nhiên khá đắt tiền. Kính chống lóa dành cho người lái xe,  người làm việc với nguồn sáng mạnh. Kính chống tụ hơi nước, kính phân cực là những sản phẩm mới trên thị trường kính.
Xin nói thêm về kính phân cực ?
 Người ta biết về kính phân cực từ năm 1939. Thế nhưng công nghệ để sản xuất kính và tiêu dùng nó thì mới trong 20 năm gần đây. Kính phân cực được coi là chống lóa tốt nhất. Do vậy rất thích hợp với người lái xe, làm việc hay vui chơi thể thao ngoài trời, câu cá, đi biển. Một vài dạng đặc biệt  được chế tạo để làm việc với màn hình tinh thể lỏng-LCD, xem phim 3D. Kính khá đắt tiền từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng một đôi.
Bs Hoàng Cương
Bệnh viện Mắt TW

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013



Nếu ai đó đã được xem phim 3D hiển nhiên sẽ có cảm giác ngạc nhiên sau đó là thích thú. Công nghệ đã mang lại cho con người những tiện nghi khó tưởng tượng nổi nhưng luôn kèm theo hệ lụy. Tôi xin chia xẻ những hiểu biết của mình với tư cách một bác sĩ mắt và cả tư cách là một người cha của 2 đứa con rất thích xem phim 3D. Với tư cách người cha tôi không cho con mình xem phim 3D hết một bộ phim hàng tiếng đồng hồ vì con mắt của chúng hàng ngày đã quá mệt mỏi rồi: hoc hành, làm bài, xem TV, game... Mặt khác thần kinh của chúng có vẻ quá phấn khích không tốt cho não bộ của trẻ vốn đang rất cần tỉnh táo để hấp thu kiến thức và học hành. Nhìn nhiều tất nhiên sẽ rất đến mệt mỏi thị giác, sau đó là cận thị...điều này không cần bàn cãi.
Hãng sản xuất game NITENDO khuyến cáo trẻ dưới 6 tuổi không nên xem phim 3D do các em đang ở độ tuổi phát triển thị giác hai mắt. Xem phim 3D dễ làm lệch lạc diện qui tụ tĩnh của trẻ, ảnh hưởng đến thị giác sau này của trẻ .
Với hiểu biết của một bác sĩ mắt, sau khi tham khảo trên một số trang web có liên quan, tôi xin cung cấp cho bạn đọc mấy thông tin sau:
- công nghệ làm phim 3D và kính đeo để xem phim( bản chất là kính phân cực) khiến cho con mắt mất đi bản chất tự nhiên của nó là: có khả năng nhìn hội tụ vào một điểm và hợp nhất hai ảnh của mắt phải và mắt trái thành một hình duy nhất.
- Cụ thể hơn: hai mắt sẽ tiêu điểm và tiêu cự lệch nhau gây ra nhận thức hình ảnh khác nhau tùy theo khoảng cách. Hình ảnh không trải trên mặt phẳng như phim 2D mà lại ở cả trước và sau của màn hình. Cảm giác 3 D chính là nhờ hiệu ứng này.
Có 25% người xem than phiền là họ bị mờ mắt, đau đầu ,đau vai gáy, chóng mặt, buồn nôn sau khi xem phim 3D. Trên thực nghiệm cũng cho thấy mắt của người xem 3 D cũng liên tục phải điều tiết và qui tụ, dễ gây ra mệt mỏi thị giác. Tuy nhiên các bác sĩ nhãn khoa cũng như chính các nhà sản xuất phim 3D như SAMSUNG và SONY cũng chưa đưa ra kết luận là không nên xem phim 3D vì còn chưa có bằng chứng rõ ràng.

Bs Hoàng Cương
Bệnh viện Mắt Trung ương

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013


Những người thường xuyên phải nói nhiều, nói to như giáo viên, phát thanh viên, người bán hàng, diễn viên kịch... rất dễ mắc bệnh giọng thanh quản. Biểu hiện thường thấy là khàn tiếng hoặc mất tiếng.

 
Bệnh lý hạt dây thanh 2 bên :trước mổ Bệnh lý hạt dây thanh 2 bên : sau mổ

Bệnh giọng thanh quản ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động nghề nghiệp, có người thậm chí phải nghỉ việc, bỏ nghề.

Tỷ lệ người mắc bệnh giọng thanh quản khá cao, chiếm đến 20%. Bệnh liên quan tới nhiều yếu tố nguy cơ như thời gian làm việc kéo dài, cường độ của giọng lớn, thói quen hút thuốc lá, uống rượu hoặc mắc một số bệnh kèm theo như viêm mũi xoang (chủ yếu là các viêm xoang sau), viêm amidan, viêm dạ dày... Những người làm việc trong môi trường tiếng ồn cao, bụi bẩn, độc hại, nhất là bụi than và bụi hóa chất... cũng dễ mắc bệnh.

Cơ quan phát âm của con người có cấu tạo rất phức tạp. Trong đó, thanh quản đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành lời nói. Lời nói được tạo ra khi có luồng không khí từ phổi đi lên; sự rung động của dây thanh tác động lên cột không khí này, tạo nên âm thanh. Khi phát âm, dây thanh đóng kín, hình dạng dây thanh có thể biến đổi lúc dày, lúc mỏng, khi căng ít, khi căng nhiều... tùy theo nhu cầu phát âm.
Các rối loạn về giọng xuất hiện do sự biến đổi nhất thời hoặc lâu dài của chức năng phát âm. Triệu chứng chủ yếu là khàn tiếng hoặc mất tiếng do sự rung động của dây không đều, hoặc hai dây thanh khép không kín khi phát âm. Thủ phạm là những tổn thương tại chỗ như viêm mạn tính (làm dây thanh dày và cứng, rung động kém), hạt xơ dây thanh, polyp dây thanh, u nang dây thanh... Các biểu hiện khàn giọng, mất tiếng cũng có thể do rối loạn chức năng giọng thanh quản ở tuổi dậy thì, hoặc do nhược cơ dây thanh, bệnh thần kinh, ngộ độc...

Việc điều trị phụ thuộc nhiều vào nguyên nhân gây bệnh. Nếu bị viêm thanh quản cấp, có thể dùng kháng sinh toàn thân, giảm viêm, giảm phù nề, giữ ấm, chườm nóng vùng cổ, kiêng nói hoàn toàn trong 3 ngày. Nếu bị viêm thanh quản mạn tính, cần nghỉ ngơi, hạn chế nói. Điều trị phẫu thuật được chỉ định trong trường hợp khàn tiếng, mất tiếng do hạt xơ, polyp, u nang dây thanh để bóc tách phần niêm mạc dày cứng...
Để giữ giọng, cần ăn uống và sinh hoạt điều độ, tránh các chất chua cay, hút thuốc lá, uống rượu bia...

(TS. Phạm Trần Anh, Sức Khoẻ & Đời Sống )

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013



Tác giả : Thạc sĩ. BS. TRỊNH MINH CHÁNH

Hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở (Obstructive Sleep Apnea Syndrome: OSAS) mới được biết đến trong vòng bốn thập kỷ qua. Triệu chứng đặc trưng nhất của OSAS là ngáy ngủ. OSAS không những ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân mà còn ảnh hưởng đến giấc ngủ của người khác ngủ cùng giường. Các nghiên cứu gần đây cho thấy một số trường hợp tử vong đột ngột vào ban đêm trong lúc ngủ có liên quan với OSAS. Trước đây, OSAS thường ít được quan tâm. Nhưng ngày nay, cùng với việc phát triển của khoa học và xã hội, hội chứng này ngày càng được quan tâm hơn và đã đạt được nhiều tiến bộ trong chuẩn đoán và điều trị. Tuy nhiên ở Việt Nam, OSAS vẫn chưa được các bệnh nhân và cả thầy thuốc ghi nhận hoặc hiểu biết đầy đủ.

OSAS là gì?

OSAS là một sự suy yếu của giấc ngủ và rối loạn hô hấp đượcđịnh nghĩa như sự ngừng thở 10 giây, ít nhất 5 lần trong 1 giờ ngủ.

Nguyên nhân nào gây ra OSAS?

Ngày nay, các yếu tố bất thường về giải phẫu ở đường hô hấp trên được xem như là nguyên nhân chính gây OSAS. Ngoài ra có vài tình trạng bệnh lý khác cũng liên quan với OSAS. Trong quá trình ngủ, các cơ của cơ thể được giãn ra và có thể làm cho các mô thừa lấn vào đường hô hấp trên (nền của miệng, mũi và họng) vốn dĩ đã hẹp càng hẹp thêm, làm tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn đường thở khi ngủ. Hậu quả gây ra tiếng ngáy khi ngủ và làm giảm độ bão hòa oxy máu, sau đó là gây ngừng thở.
Khi sự hô hấp bị gián đoạn bởi sự tắc nghẽn của đường thở, cơ thể phản ứng lại bằng cách tự đánh thức đủ để bắt đầu cho việc thở trở lại. Sự đánh thức này có thể xảy ra hàng trăm lần mỗi đêm nhưng không đủ để làm thức tỉnh bệnh nhân ở mức độ ngủ nông (giai đoạn I, II). Do đó họ vẫn không nhận biết tiếng ngáy của chính mình. Sự ngạt thở (choking) và sự thở hổn hển (gasping) có liên quan một cách đặc biệt với OSAS. Những người bị OSAS thường không có một giấc ngủ ngon, do sự ngưng thở lặp đi lặp lại và sự tự đánh thức làm bệnh nhân mất giai đoạn ngủ sâu (giai đoạn III, IV) và giai đoạn REM (rapid eye movement), dẫn đến sự mệt mỏi cả ngày mạn tính và stress tim mạch lâu dài.

Các yếu tố bất thường về giải phẫu ở đường hô hấp trên và những tình trạng liên quan với OSAS:

- Ngạt mũi
- Khẩu cái mềm và lưỡi gà quá lớn.
- Quá phát amiđan.
- Lưỡi lớn và đầy.
- Họng miệng và hạ họng hẹp do niêm mạc và mô dưới niêm mạc quá dày.
- Hàm nhỏ (micrognathia).
- Hàm đưa ra sau (retrognathia).
- Xương mọng thấp hơn bình thương.
- Béo phì.
- Hội chứng Down.
- Suy giáp.
- Bệnh to cực (acromegaly).
- U, phẫu thuật ung thư và tia xạ ở mũi họng gây phù nề hoặc xơ sẹo.

OSAS gây ảnh hưởng gì đến sức khỏe?

OSAS có ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe. Việc ngủ ngày (daytime sleep) quá nhiều, kém hoạt động, sự gián đoạn của giấc ngủ bình thường sẽ dẫn tới sự gia tăng đáng kể trong tai nạn giao thông (gấp 7 lần người bình thường). Qua thời gian dài, OSAS liên quan với nguy cơ cao của cao huyết áp và bệnh tim mạch.
Thêm vào đó, tiếng ngáy và sự gián đoạn thở có thể ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của những người ngủ cùng giường với bệnh nhân. Sự chứng kiến một cơn ngưng thở có thể là nỗi ám ảnh đáng sợ bởi bệnh nhân OSAS thường có biểu hiện ngạt thở (suffocating). Do đó những người ngủ cùng giường nên thuyết phục bệnh nhân đi khám bệnh.

Những ai dễ bị OSAS?

Kết quả từ một nghiên cứu gần đây cho thấy khoảng 1/3 nam và gần 1/5 nữ có ngủ ngáy thường xuyên bị OSAS ở những mức độ khác nhau, trong đó gần 1/3 trường hợp có biểu hiện OSAS trầm trọng. Những người béo phì bị ảnh hưởng nhiều hơn (với khoảng 1/3 bị OSAS trầm trọng). Ðàn ông thường bị ảnh hưởng nhiều hơn phụ nữ, có lẽ do bị béo phì nhiều hơn phụ nữ.

Chẩn đoán OSAS như thế nào?

- Khai thác bệnh sử
Với những người nghi ngờ bị OSAS, cần tập trung vào mức độ của tình trạng thiếu ngủ, kém hoạt động và những dấu chứng, triệu chứng nghi ngờ có liên quan đến rối loạn này. Ngủ ngáy và sự ngưng thở thấy được khi bệnh nhân ngủ là tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá. Xác định ngủ ngáy liên tục, ngắt quãng hoặc chỉ ở một số tư thế là quan trọng. Hỏi người ngủ chung giường với bệnh nhân cũng là yếu tố giúp cho việc chẩn đoán. Những trường hợp nhẹ hơn, biểu hiện tắc nghẽn đường thở xảy ra hầu như trong khi nằm ngửa, trong khi đó nằm nghiêng hoặc sấp thì không. Những dấu hiệu khác bao gồm: tiền sử tăng cân, sử dụng thuốc, rượu hoặc các chất giảm đau khác và một tiền sử về rối loạn giấc ngủ. Những vấn đề về tim mạch, cao huyết áp, bệnh thần kinh cũng nên được xem xét chi tiết. Ðồng thời cũng cần đánh giá mức độ ngủ ngày, buồn ngủ trong khi làm việc, lái xe hay xảy ra tai nạn, thay đổi nhân cách, kém tập trung, rối loạn chức năng tình dục. Xem xét thời gian của giấc ngủ, khởi phát ngủ và chất lượng ngủ là manh mối quan trọng.
- Khám lâm sàng
Mục tiêu chính của khám lâm sàng là xem xét toàn bộ những yếu tố nghi ngờ về giải phẫu gây tắc nghẽn đường thở và ghi nhận những tổn thương tại chỗ để sửa chữa. Cấu trúc sọ mặt của bệnh nhân OSAS là thông tin rất quan trọng. Ngạt mũi thường gặp do quá phát cuốn mũi cũng thường gặp ở những bệnh nhân OSAS. Thở miệng khi ngủ rất hay gặp. Tuy nhiên, không thể kết luận thở miệng là hoàn toàn do ngạt mũi.
Khám họng, hạ họng thường được các bác sĩ tai mũi họng quan tâm nhằm tìm kiếm những nếp niêm mạc thừa dày lên ở hạ họng, lưỡi gà và khẩu cái mềm. Ðộ sâu và rộng của hạ họng, sự quá phát của amidal cũng được xem xét.
Hàm tụt ra sau, hàm nhỏ, lưỡi lớn có thể gặp.
Nội soi ống soi mềm có ích trong việc đánh giá đường thở của bệnh nhân OSAS.
Bệnh nhân cũng cần làm thêm một số xét nghiệm như : EEG, EMG, ECG, EOG, oxymetry, SaO2 < 85% cần đặc biệt chú ý, SaO2 < 60% biểu hiện OSAS nặng, X-quang sọ mặt...

Vấn đề điều trị OSAS hiện nay

- Ðiều trị nội khoa
Bệnh nhân cần tránh sử dụng rượu, các thuốc giảm đau, thuốc ngủ, thuốc an thần, một số thuốc kháng histamine và các thuốc chống động kinh đặc biệt vào ban đêm. Ngay cả một số thuốc điều trị cao huyết áp ức chế beta hoạt động ngắn cũng có thể làm OSAS nặng thêm. Thuốc thường được sử dụng để điều trị OSAS là Protriptyline, tuy nhiên hiệu quả còn chưa cao. Nếu OSAS do nguyên nhân về giải phẫu, các thuốc hoàn toàn không có hiệu quả.
Sự lên cân là yếu tố liên quan đến sự gia tãng nguy cơ và độ trầm trọng của OSAS, có thể do sự lắng đọng mô mỡ trong đường hô hấp trên. Do đó nỗ lực giảm cân được xem như là một phương pháp đều trị hỗ trợ.
Thở oxy hỗ trợ có thể hữu ích trong thời gian ngắn nếu các cách khác không có tác dụng.
Một phương pháp điều trị không phẫu thuật quan trọng nhất là sử dụng máy thở áp lực dưỡng liên tục (continuous positive airway pressure: CPAP). Hàng đêm, trong khi ngủ, bệnh nhân mang một mặt nạ được nối với một máy bơm đẩy không khí vào mũi ở áp lực cao đủ vượt quá sự tắc nghẽn trong đường thở và kích thích cho thở bình thường. CPAP có hiệu quả cao, cải thiện trong 100% trường hợp, ngoại trừ vài trường hợp tắc mũi nặng. Tuy nhiên nhiều bệnh nhân cảm thấy bất tiện khi đeo mặt nạ, có cảm giác bị nhốt (claustrophobic) hoặc gây ra khó chịu.
Các phương pháp khác như nẹp răng hàm (orthodontic splints), dụng cụ giữ lưỡi, kèn mũi (nasal trumpets) đã được báo cáo là thành công nhưng vẫn không được chấp nhận rộng rãi.
- Ðiều trị phẫu thuật trong OSAS
Mở khí quản được ghi nhận như là tiêu chuẩn vàng trong điều trị OSAS nặng và vẫn còn hiệu quả cao. Tuy nhiên tiêu chuẩn mới có lẽ là CPAP. Mở khí quản hữu ích đối với những bệnh nhân không chịu được hoặc không hiệu quả với CPAP.
Từ nãm 1981, phẫu thuật tạo hình lưỡi gà - khẩu cái - họng (uvulopalatopharyngeoplasty: UPPP) đã được giới thiệu để điều trị OSAS, đây là phẫu thuật cắt lưỡi gà, một phần khẩu cái mềm, amidal và có thể các mô thừa khác trong họng. UPPP giúp cải thiện đáng kể với OSAS nặng (khoảng 50%). Những bệnh nhân bị OSAS nặng được cải thiện triệu chứng nhưng có thể vẫn tiếp tục có sự ngưng thở và mất bão hòa oxy đáng kể. Nhiều nghiên cứu đã không cho thấy có bất kỳ sự cải thiện nào đối với tỷ lệ tử vong với UPPP, như xảy ra ở những bệnh nhân được mở khí quản hoặc CPAP.
Phẫu thuật treo xương móng nhằm làm rộng đường thở ở nền lưỡi được giới thiệu là khá thành công, đặc biệt nếu phẫu thuật kết hợp với UPPP và phẫu thuật ở mũi. Phẫu thuật xương hàm trên và dưới bằng sliding ostiotomies cũng giải quyết được những bất thường về giải phẫu gây ra OSAS.
Tắc nghẽn mũi một phần hoặc hoàn toàn có thể làm tãng thêm OSAS nhưng hiếm khi là nguyên nhân duy nhất. Giải quyết ngạt mũi đơn thuần thường không hiệu quả trong OSAS mà thường có tác dụng hơn trong ngừng thở nhẹ, ngủ ngáy mạn tính hoặc khi sử dụng kết hợp với các loại phẫu thuật đường thở khác.

(TheoYKHOANET)

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Chứng ù tai
Bạn có nghe tiếng chuông reo, tiếng gầm rú, tiếng lách cách hay tiếng huýt sáo trong tai? Những tiếng động đó có gây phiền nhiễu cho bạn? Nếu bạn trả lời là có, nghĩa là bạn bị chứng ù tai.
Ù tai thường chỉ là một triệu chứng phối hợp với nhiều hình thức khác của bệnh mất thính giác (còn gọi là điếc tai), có thể là biểu hiện của những bệnh khác (như cao huyết áp). Nguyên nhân gây ù tai:

Mất thính giác: Các nhà nghiên cứu khám phá ra rằng một số người mất thính giác cũng có thể bị chứng ù tai.

Tiếng động lớn:Tiếng nổ quá lớn cũng có thể gây ra chứng mất thính giác và chứng ù tai.

Thuốc men: Có khoảng 200 loại thuốc có thể gây ra chứng ù tai, do đó khi cần uống thuốc, bạn phải hỏi ý kiến bác sĩ.

Các vấn đề y khoa khác: Dị ứng, khối u, có vấn đề về tim mạch, có bệnh ở hàm hay cổ đều có thể gây ra ù tai.

Điều cần làm khi bị ù tai là phải đi khám bác sĩ để tìm nguyên nhân hoặc tìm hiểu xem chứng ù tai đó có liên quan đến huyết áp, chức năng thận, khẩu phần ăn hay bị dị ứng không. Bác sĩ cũng có thể xác định xem chứng ù tai đó có liên quan đến thuốc mà bệnh nhân đang dùng không.
Dù không chữa khỏi hoàn toàn chứng ù tai nhưng bác sĩ chuyên khoa có thể tìm ra vài liệu pháp giúp giảm bớt chứng bệnh này. Không phải biện pháp nào cũng phù hợp với mọi người, vì vậy bệnh nhân sẽ được thử để tìm ra cách thích hợp nhất:

Trợ thính: Nhiều người bị ù tai cũng có thể bị mất thính lực, cần đeo máy trợ thính để nghe rõ hơn. Khi càng nghe rõ lời người đối thoại hay nghe rõ bản nhạc mình yêu thích thì sẽ cảm thấy bớt ù tai.

Masker: Là thiết bị điện tử nhỏ, dùng âm thanh để làm dịu bớt chứng ù tai. Masker không làm cho ù tai hết hẳn nhưng có thể làm cho tiếng chuông reo hay tiếng gầm rú trong tai dịu đi. Đối với một số bệnh nhân, masker có thể che lấp chứng ù tai tốt đến nỗi họ hầu như không nghe thấy nữa tiếng ù; một số trường hợp masker giúp ngủ ngon hơn. Đây là những thiết bị mà bạn nên đặt cạnh giường, giúp quên đi sự ù tai và nhẹ nhàng vào giấc ngủ.

Ngoài ra, cũng có vài loại thuốc có thể làm dịu chứng ù tai

Liệu pháp tập luyện: Liệu pháp sử dụng sự kết hợp giữa tư vấn và masker hướng dẫn cách xử lý để cải thiện chứng ù tai. Bạn cũng có thể sử dụng masker để làm giảm đi sự lưu ý đến chứng ù tai. Sau một thời gian tập luyện, một số bệnh nhân đã học được cách “quên” sự ù tai của mình. Phương pháp này đòi hỏi phải có thời gian nhưng lại rất hữu ích.

Tư vấn: Nhiều bệnh nhân bị chứng ù tai lâu ngày dẫn đến suy nhược thần kinh. Vì vậy, cần phải tham khảo ý kiến các chuyên gia để được tư vấn về vấn đề này.

Thư giãn: Học cách thư giãn thật sự rất ích lợi nếu như tiếng ù trong tai gây quá nhiều nhiêu khê. Stress làm cho tình trạng ù tai trở nên tồi tệ hơn. Bằng cách thư giãn, bạn sẽ có cơ hội nghỉ ngơi và xử trí với tiếng ù tốt hơn.
(Theo vnexpress)

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013


1/ Con tôi nay được 6 tháng tuổi, bị lé từ 3 tháng nay, Tôi muốn đưa bé đi khám nhưng ngại bé còn quá nhỏ chưa hiểu gì. Xin hỏi BS khi nào tôi nên đưa bé đi khám lé?
Nên đưa bé đi khám lé ngay, bởi vì lé xảy ra càng sớm thì tổn hại chức năng thị giác của trẻ sẽ càng nhiều. BS sẽ có phương pháp để khám đặc biệt cho các trẻ nhỏ.
2/ Ở tuổi nào có chỉ định mổ lé?
Chỉ định mổ sớm hay muộn tùy thuộc vào dạng lé và mức độ tổn hại chức năng thị giác. Ngoài ra yếu tố quan trọng nữa là cơ sở phải có đủ phương tiện gây mê hồi sức tốt cho phẫu thuật nhi.
Ở Việt Nam, chúng tôi thường phẫu thuật cho trẻ từ 2 tuổi trở lên.
3/ Sau mổ, lé có bị tái phát không?
Có một tỉ lệ lé tái phát sau mổ, tùy thuộc vào nguyên nhân gây lé. Có thể ổn định suốt đời, cũng  có một số trường hợp lé xảy ra vài tháng đến vài năm sau mổ. BS sẽ tư vấn cho bạn theo từng trường hợp cụ thể.
4/ Có trường hợp bị lé một mắt nhưng BS yêu cầu mổ hai mắt?
Lé mắt là sự lệch hướng của mắt này so với mắt kia. Ví dụ: với lé trong, nếu mắt phải định thị thì mắt trái sẽ lé vào trong, ngược lại, nếu mắt trái định thị thì mắt phải lé vào trong. Do đó việc chỉnh lé có thể ở một hoặc hai mắt tùy từng trường hợp, còn xem xét mắt chủ đạo, nhược thị và tính thẩm mỹ nữa.
5/ Mổ lé có nguy hiểm không?
Mọi phẫu thuật đều có nguy cơ của nó.Thường gặp nhất là thặng chỉnh hoặc thiểu chỉnh, tức là còn lé. Cũng có nguy cơ nhiễm trùng, chảy máu nhưng hiếm gặp. Ngoài ra, biến chứng làm giảm thị lực thì rất ít.
Có thể nói, nếu được chuẩn bị tốt và được phẫu thuật bởi BS chuyên nghiệp thì rất an tòan.
6/ Các biến chứng của mổ lé?
Thường gặp là còn độ lé nhỏ sau mổ. Đỏ mắt  khoảng 2 - 4 tuần. Ngoài ra, nếu không vệ sinh mắt tốt cũng có nguy cơ nhiễm trùng vết mổ. Viêm nội nhãn ảnh hưởng đến thị lực là biến chứng nặng và rất hiếm xảy ra.
7/ Sau mổ lé có phải cắt chỉ không?
Chúng tôi sử dụng chỉ tự tiêu được nên sau mổ không cần phải cắt chỉ.
8/ Mổ lé có đau không? Có phải gây mê không?
BS sẽ tiêm thuốc tê vào cạnh mắt cho nên mổ không đau nhiều, chỉ hơi tức mắt. Sau mổ khi thuốc tê hết tác dụng, mắt đau nhẹ, tuy nhiên, cần uống thuốc giảm đau.
Đối với các trẻ nhỏ không hợp tác tốt, BS cần gây mê để đảm bảo an toàn.
9/ Lé có thể điều trị khỏi mà không cần phẫu thuật không?
Một số trường hợp lé do tật khúc xạ như cận thị, viễn thị thì có thể điều chỉnh bằng cách đeo kính mà không phải phẫu thuật. Sử dụng kính đeo mắt bằng lăng kính cũng có thể chỉnh lé.
Các trường hợp lé xảy ra đột ngột và nhìn hình đôi do liệt thần kinh vận nhãn, có thể tiêm thuốc tạm thời.
10/ Tôi 60 tuổi bị liệt Thần kinh 6 nên nhìn một thành hai. BS bảo tôi tiêm thuốc Botox để điều trị. Xin hỏi Botox có tác dụng gì, có nguy hiểm không?
Botox là tên thương mại của botulium toxin, một loại độc tố sản xuất từ vi khuẩn Clostridium botulunium có tác dụng làm yếu cơ tạm thời. BS sẽ tiêm thuốc vào cơ trực trong để làm yếu cơ này, vì vậy nó sẽ cân bằng với cơ trực ngoài đang bị liệt. Hiệu quả của thuốc thường từ vài tuần đến vài tháng và có thể đủ đến khi cơ trực ngoài kịp hồi phục. Botox là thuốc an toàn và hiệu quả.
11/ Mổ lé có phải nằm viện không? thời gian mổ bao lâu?
Bệnh nhân được xuất viện ngay sau mổ, trừ trẻ con phải gây mê. Thời gian mổ tùy thuộc từng trường hợp cần điều chỉnh ít hay nhiều cơ. Trung bình khoảng 20 - 40 phút cho một case.
12/  Tôi cần  phải tái khám sau mổ lé không?
Sau khi mổ lé, bệnh nhân cần phải tái khám sau:
-1 ngày.
-1 tháng.
-3 tháng.
13/ Sau mổ bao lâu tôi có thể làm việc bình thường ?
Bạn cần nghỉ ngơi ít nhất 3 ngày sau mổ vì mắt sẽ xốn cộm và mỏi mệt khi làm việc. Nhớ giữ gìn vệ sinh thật tốt để tránh nhiễm trùng.
Tuy nhiên mắt sẽ còn đỏ trong khoảng 2 - 4 tuần sau mổ.
Bác Sĩ Lê Nguyễn Huy Cường
(BV Mắt Việt Hàn)  

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013


 Lé mắt là gì?

Lé mắt là khi ta nhìn một vật nào đó, hai mắt không thẳng hàng mà có một mắt lệch đi so với mắt kia. Có thể lệch vào trong gọi là lé trong, lệch ra ngoài gọi là lé ngoài, hoặc lệch lên trên gọi là lé đứng trên, hay lệch xuống dưới gọi là lé đứng dưới. Lé xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa các cơ ngoại nhãn của mắt, làm cản trở sự phát triển thị giác hai mắt và có thể ảnh hưởng đến thị lực, đồng thời cảm nhận chiều sâu - khả năng định vị một vật nào đó trong không gian 3 chiều -có thể mất.


Lé ngoài

Lé trong

 Ai có thể bị lé?

Lé mắt có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, bẩm sinh hoặc mắc phải, cũng có yếu tố di truyền. Người lớn thường lé thứ phát sau một chấn thương mắt, tật khúc xạ ( cận thị, viễn thị, loạn thị) không được điều trị hoặc một bệnh lý nào đó, có thể là tổn thương ở thần kinh hoặc tại cơ vận nhãn. Trẻ bị lé mắt bẩm sinh thì chưa rõ nguyên nhân, có lẽ do di truyền. Nghiên cứu cho thấy hơn phân nửa trẻ em bị lé gặp ở lứa tuổi nhũ nhi, ngay sau sanh hoặc một thời gian ngắn sau sanh.

 Nguyên nhân bị lé?

Có 6 cơ vận nhãn bám xung quanh mắt để giúp mắt liếc các hướng. Một cơ có vai trò liếc mắt sang phải, một cơ liếc mắt sang trái và 4 cơ còn lại làm cho mắt liếc lên trên và sang 4 góc. Khi thị giác hai mắt phát triển tốt thì hai mắt sẽ luôn làm việc cùng nhau để nhìn về 1 vật, não sẽ buộc cho các cơ ở một mắt hoạt động cân bằng nhau và hai mắt phối hợp hài hòa nhau. Lé mắt xảy ra là do sự mất cân bằng hài hòa này. Lé có thể do một rối loạn nào đó ở não hoặc tại cơ làm sự điều phối trên bị rối loạn.
Có thể một tổn thương nào như khối u, xuất huyết… làm liệt thần kinh vận động cho cơ nên mắt bị lé.
Lé có tính gia đình. Những tổn thương tuần hoàn trong bệnh tiểu đường, đục thủy tinh thể , viễn thị, khối u mắt hoặc bệnh lý khác làm cho mắt mờ có thể dẫn đến lé.

 Triệu chứng của lé?

Biểu hiện của lé đơn giản nhất là được thấy hai mắt lệch nhau do người xung quanh phát hiện hoặc khi soi gương. Tuy nhiên, có những trường hợp lé độ nhỏ hoặc lé ẩn thì khó phát hiện hơn.
Triệu chứng có thể là mỏi mắt thường xuyên hoặc khả năng tập trung kém, nhìn mờ do tật khúc xạ kèm theo hoặc do nhược thị.
Nếu lé xảy ra đột ngột, bệnh nhân có thể nhìn đôi do hai mắt nhìn về hai vật đồng thời. Để giảm khó chịu thì bệnh nhân sẽ nghiêng đầu để nhìn, và dần dần não sẽ tự ức chế ảnh ở một mắt để xóa song thị. Hậu quả là gây ra nhược thị một mắt.

 Lé mắt gây tác hại gì?

Tác hại cực kỳ quan trọng nếu lé xảy ra ở trẻ em đang trong giai đọan phát triển thị giác là làm cho thị giác kém phát triển, có thể gây nhược thị, mất khả năng nhìn bằng hai mắt, do đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như không thể làm một số nghề nghiệp đòi hỏi thị giác hai mắt tốt. Ngoài ra với người lớn, lé mắt làm mất vẻ thẩm mỹ và là trở ngại rất lớn cho việc giao tiếp trong cuộc sống.
Ở người lớn tuổi, lé mắt đột ngột có thể là báo hiệu một bệnh lý cấp tính ở hệ thần kinh vận động, do đó cần phải khám và tìm nguyên nhân để điều trị.
Bác Sĩ Lê Nguyễn Huy Cường
(Bệnh Viện Mắt Việt Hàn)